móc treo

Chùa Tiên Lữ xã Đức Lập

Thứ sáu - 13/03/2015 20:16
Chùa Tiên Lữ có từ 1428 đến 1433. Chùa trước đây được lợp tranh, song đã bị thực dân Pháp đốt cháy. Đến 1902, nhân dân góp tiền trùng tu chùa với mái ngói mới, tượng phật đầy đủ. Chùa có 3 gian bằng gỗ mít được chạm trỗ “tứ linh, tứ quý”. Di tích chùa Tiên Lữ được xây dựng trên một vùng đất bằng phẳng, nằm giữa lưng chừng chân núi Dị Sơn (Rú Dẻ), hiện nay thuộc xóm Tiên Lữ xã Đức Lập huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh
Chùa Tiên Lữ xã Đức Lập

Chùa Tiên Lữ xã Đức Lập

Chùa Tiên Lữ có từ năm 1428 đến 1433 xây dựng cho Bạch Ngọc Hoàng Hậu (Trần Thị Ngọc Hào), vợ thứ ba vua Trần Duệ Tôn, người đã có công lớn giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh xâm lược. Hiện nay, chùa là nơi thờ Phật tổ Như Lai, Quan Âm Bồ Tát và đặc biệt là hai mẹ con hoàng hậu Bạch Ngọc (Trần Thị Ngọc Hào) và Trịnh Thục (Trần Thị Ngọc Hiền). 
    Hoàng hậu Bạch Ngọc tên thật là Trần Thị Ngọc Hào. Trong một chuyến du ngoạn qua vùng phía nam, vua Trần Duệ Tôn (1337- 1377) bắt gặp một người con gái quốc sắc thiên hương, con trưởng ông Trần Công Thiệu, một nhà giàu ở làng Tri Bản, xã Thổ Hoàng – Hương Khê liền đưa về kinh thành Thăng Long, phong làm hoàng hậu Bạch Ngọc. Bà sinh ra công chúa Huy Chân (Trần Thị Ngọc Hiền), sau này là vợ của thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi. 
    Sau khi chiếm ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly thực hiện một số chính sách cải cách nửa vời thiếu triệt để, không hợp lòng dân. Lợi dụng cớ này cộng thêm sự phát triển cực thịnh của chính quyền phong kiến Trung Quốc làm nảy sinh chính sách bành trướng, Minh Thành Tổ đã cho quân xâm lược, biến nước ta thành quận huyện của chúng. Nhà Hồ (1400- 1407) nhanh chóng sụp đổ. Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, Hoàng hậu Bạch Ngọc cùng với những người tự nguyện đi theo, tất cả là 572 người cải trang làm người tu hành bỏ kinh thành Thăng Long tìm về quê hương lánh nạn. Sau hơn 50 ngày vất vả gian truân, ngày nghỉ đêm đi, ẩn dấu trong rừng sâu hoang vắng, mọi người ăn gió nằm sương mới về tới quê nhà. Người đi theo bị đói rét chết chóc, tán lạc chỉ còn lại 172 người. Khi ấy, bọn Ngô Cảnh Cân làm chủ đất La Giang bởi thế Hoàng hậu, công chúa cùng những người thân cận phải mai danh ẩn tích ở núi Cốc, núi Trà lập trại làm ăn sinh sống, chiêu dụ dân chúng khai hoang lập làng. Sau một thời gian, một trang trại lớn được mở mang từ Hoà Duyệt, Thượng Hạ Bồng đến Lạng Quang - Du Đồng xuống tới Thường Nga - Lai Thạch (nay là vùng thượng Đức Thọ, hạ Hương Sơn và một vùng Can Lộc) với tới hơn 3000 người, 3960 mẫu ruộng. Bà cho xây dựng 4 làng gọi là “điếm” được biết đến với những tên Lai Sơn, Hàng Nga, Ngũ Khê, Tùng Chính. Hoàng hậu Bạch Ngọc có hai cung nữ là Phạm và Kị và hai trung thần là Nguyễn Thời Kính và Trần Quốc Trung. Để cảm ơn lòng tận tuỵ của họ, bà đã gả hai cung nữ của mình cho hai ông và tên hai cặp vợ chồng ấy bà lấy và đặt tên cho hai trong những “điếm” mới lập ra, một điếm gọi là Kính Kỵ nay thuộc xã Đức Long và một điếm gọi là Trung Phạm (nay thuộc xã Đức Lập). 
    Lúc bấy giờ, Lê Lợi tiến vào đất Nghệ An nhằm tập trung lực lược chống quân Minh ông ra lệnh cho Bùi Bị, Đinh Lễ, Đinh Bồ, Tiến Việt, Bùi Quốc Trinh từ nước Ai Lao đem binh tướng tất cả 3000 quân chia làm ba đạo đánh đuổi giặc khỏi thung lũng Ngạn Sơn Chi La, Bùi Vị - Đinh Bồ dấu quân trong rừng núi. Đinh Bồ đến huyện Hưng Nguyên thì chết trận. Bùi Bị cùng hơn 50 quân tử đề mặc áo choàng, để tóc dài giả làm người phương Bắc đêm đến xông vào sào huyệt của bọn Ngô Cảnh Cân, chém chết hắn ngay tại chỗ nằm. Từ đó, Chi La trở thành vùng đất bất khả xâm phạm. Trong chiến dịch này Nguyễn Tùng Quy phát hiện ra nơi ẩn náu của hoàng hậu Bạch Ngọc cùng công chúa Huy Chân. Ông báo với Bùi Bị, Bùi Bị đưa chuyện tâu với Lê Lợi. Hiểu rõ sự tình, Lê Lợi cho bà về vùng Kỳ Đà dưới sự bảo vệ của đội quân tinh nhuệ. Khi đến dãy núi Yên Mã, Lê Lợi ở lại động Tiên Hoa, được đội quân chủ lực và những người tuỳ tùng bảo vệ Bùi Bị thấy đây là dịp tốt để giới thiệu hoàng hậu và công chúa Nhà Trần với Lê Lợi. Gặp Huy Chân, Lê Lợi bị cuốn hút trước sắc đẹp của nàng. Ông bèn xin cầm tay nàng và lấy nàng làm cung phi và sai lập hai cung Phượng Hoàng tại làng Kính Kỵ và Ngũ Long ở Hoà Yên cho hai mẹ con bà ở. Hoàng thái hậu Bạch Ngọc xin hiến toàn bộ lúa gạo, tiền bạc, trang trại xây dựng trong nhiều năm cho vua Lê, còn Nguyễn Thời Kính và Trần Quốc Trung được gia nhập nghĩa quân và có nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.. Khi đất nước thanh bình, do không có con trai nên Hoàng hậu Bạch Ngọc cho lập chùa Diên Quang ở núi Am Sơn thuộc xã Đức Hoà ngày nay để tu hành. 
    Hoàng hậu Trịnh Thục (tức Huy Chân công chúa) có với vua Lê Thái Tổ một người con gái tên là Lê Thị Ngọc Châu, tước hiệu là Trang Từ công chúa . 
    Tướng Bùi Bị được phong Mậu quận công Bảo chính công thần. Con cả ông là Bùi Ban thân cao bảy thước tráng kiện hơn người theo thân phụ Uất quận công đánh giặc Minh lập nhiều công trạng được phong làm Minh quận công và được vua gã công chúa Trang Từ cho. Về sau, đi đánh giặc Chăm Pa, Bùi Ban bị thương nặng, sau đó về mất tại Thổ Hoàng (Hương Khê). Không có con trai, Ngọc Châu lui về tu ở chùa Diên Quang cùng bà ngoại và mẹ. Ngọc Châu mua 3 mẫu ruộng ở vùng Đà và 3 mẫu ruộng ở vùng Bàn để duy trì cúng tế. Mặt khác, bà cho xây dựng chùa Tiên Lữ trên núi Dị Sơn (Rú Dẻ), sát đồi Long Mã, làng Trung Phạm (nay thuộc xã Đức Lập). Để duy trì ngôi chùa này, bà cho làm cạn vùng Ao Sen nhằm biến nó thành ruộng lúa. Vùng đất này bị Khôi quận công: Trần Hồng tước đoạt. Công chúa Trang Từ tu hành được 20 năm; Hoàng thái hậu Bạch Ngọc và Hoàng hậu Trịnh Thục được hơn 20 năm. 
    Hoàng thái hậu Bạch Ngọc mất ngày 22- 6, Hoàng hậu Trịnh Thục mất ngày 22 - 3 dưới thời Hồng Đức còn công chúa Trang Từ mất ngày 05 – 12 dưới thời Cảnh Thống vua Lê Hiến Tông (1498 - 1505). Các ngày 01 mồng 02 mồng 03 tết Nguyên Đán lễ cúng giỗ chay; tiết Thanh Minh, Đoan Ngọ thì lễ vật đầy đủ. Hoàng Thái hậu Bạch Ngọc được an táng tại Bị Bản. Hoàng hậu Trịnh Thục và công chúa Trang Từ thì ở vùng rừng thiêng quanh đồi Phúc Sơn, nơi có đền Ngũ Long (nay không còn nữa). Kể từ đó Phúc Sơn lấy tên là Núi Vua, cả vùng là Xứ Mộ Vua. Hiện nay, dấu vết những ngôi mộ này không còn dấu vết nữa. 
    Di tích chùa Tiên Lữ trong cuộc kháng chiến chống Pháp là cơ sở hoạt động bí mật của chi bộ Đảng xã Đức Lập. Những năm 1930 - 1931, biết đây là nơi hoạt động của chi bộ Đảng, giặc Pháp đã bắt rồi đưa hai đồng chí huyện uỷ viên, tỉnh uỷ viên là Trần Cát và Đào Nhật Lãm ra hành quyết. Ngày nay, với giá trị di tích lịch sử - văn hoá, chùa Tiên Lữ là điểm danh thắng nơi đông đảo các tín đồ phật tử hành hương về. Nhằm giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng của cha anh đi trước, cứ đến ngày 3 - 2 hằng năm, Đảng bộ xã Đức Lập tổ chức ra thăm hương tưởng nhớ những người con đã hi sinh cho đất nước. 
    Chùa Tiên Lữ có từ 1428 đến 1433. Chùa trước đây được lợp tranh, song đã bị thực dân Pháp đốt cháy. Đến 1902, nhân dân góp tiền trùng tu chùa với mái ngói mới, tượng phật đầy đủ. Chùa có 3 gian bằng gỗ mít được chạm trỗ “tứ linh, tứ quý”. Song do chiến tranh tàn phá và thời gian di tích đã bị huỷ hoại, hư hỏng nhiều. Thời gian gần đây, Đảng bộ và nhân xã Đức Lập đã phục hồi, tôn tạo lại trên nền đất cũ . 
    Chùa Tiên Lữ toạ lạc trên núi Dị Sơn hay còn gọi là Rú Dẻ bởi nơi đây ngày xưa được bao phủ toàn là cây dẻ một loại cây ăn quả. Còn bây giờ rừng dẻ đã biến mất chỉ còn lại thưa thớt điểm xiết trong một rừng cây mới trồng mặt chùa quay về hướng Đông Nam. Chùa dựa lưng vào núi Phụ Đồ, nơi tương truyền xưa kia tiên xuống đánh cờ, bên hữu là núi Long Mã, cạnh đó là khe nước chùa chảy quanh năm không ngừng nghỉ bất chấp thời tiết hạn hán, gió Lào. Phía trước là Ao Sen. Xa xa, là những thửa ruộng tít tắp được chia ô thửa hình bàn cờ mà theo sử sách do gia đình bà Hoàng Thái hậu khai phá để duy trì cúng tế trong chùa. Tô điểm vào đó là những làng quê mang đậm chất Việt Nam với mái ngói đỏ tươi, tre xanh bao bọc … che chở người dân suốt bao đời khỏi những thiên tai địch hoạ. Xung quanh di tích có nhiều cây cối đẹp, đặc biệt ở góc sân chùa có hai cây đa cổ thụ to lớn người ôm không xuể làm tôn vẻ nghiêm trang, cổ kính cho chốn bồng lai tiên cảnh. Chùa Tiên Lữ có độ cao so với mực nước biển là 15 m, nằm trên một mảnh đất bằng phẳng tự nhiên với diện tích 600 m2. Phía trước là hệ thống cột nanh và tường bao mới xây cao 1,5 m dài 14,4m. Cổng rộng 1,65m, ở giữa tường bao là nhà và sân khá rộng, đứng án ngự gần lối ra vào là bàn thờ đá kích thước dài 2m rộng 1m cao 0,8m, trên có lư hương. Chùa Tiên Lữ kiến trúc theo kiểu chữ Công. Đây là kiểu kiến trúc quen thuộc phổ biến thời Lê và được bố trí theo trục dọc, toàn bộ phần gỗ được làm bằng chất liệu gỗ mít, tại các đường xà và đuôi kẻ được chạm hoa văn lá cúc, lá đề, rồng, phượng …theo lối tượng trưng. Chùa được xây dựng tường bao 1,0m bằng đá ong có sẵn ở địa phương theo kiểu nhà Kẻ, trên lợp ngói mũi, tại bốn góc mái có đắp 4 đầu đao, nền nhà láng xi măng. Trên khu đĩ có đắp mặt hổ phù, dưới hổ phù là dòng chữ Chùa Tiên Lữ bằng chữ Quốc ngữ. Dọc bờ nóc có lưỡng long chầu nguyệt, được đắp khá công phu. Mặt bằng diện tích chùa Tiên Lữ dài 9m, rộng 5,9m (53,1m2) được chia thành 3 gian, 4 vì, 10 cột trong đó 4 cột cái đường kính 0,22m, cao 3,4 m, 6 cột con cao 2,5 m đường kính 0,2m. Các vì kèo được các xà, phù đàu, thượng kết nối lại thành một bộ khung kết cấu chịu lực vững chãi. Ngoài ra chùa còn một bình bản phía trước được chống đỡ bởi 4 cột nanh được khắc 3 đôi câu đối bằng chữ Hán như sau: 
    Câu thứ nhất
    Phiên âm:               Nhất môn hiển hách minh Nam Việt 
                                      Vạn cổ vinh bao chấn đế đình 
    Dịch nghĩa:         Đây là một cửa hiểm hách rạng ngời nhất cõi Việt Nam 
               Nơi mà đời đời vẫn được nhân dân thờ cúng nghiêm trang như trong triều đình
     Câu thứ hai
    Phiên âm:                          Long Mã triều lai nhân tuấn kiệt 
                                                Hoa xuyên hồi tụ địa sinh linh 
     Dịch nghĩa:                          Long Mã chầu về sinh nhân kiệt 
                                              Hoa xuyên hồi tụ lại đất linh thiêng
 
    Câu thứ ba: 
    Phiên âm:                            Dị Lĩnh bách niên căn bản tráng 
                                              La Giang thiên cổ phái lưu trường 
    Dịch nghĩa:                             Gốc rễ Dị Sơn đời đời vững bền 
                                           Dòng nước La Giang ngàn năm vẫn chảy mãi 

    Để tạo ra một không gian bên trong rộng, có cảm giác thoải mái, hai cột trụ cái giữa của hai vì giữa được thay bằng hai cột dội nằm trên hai tăng đẩu đè lên hạ được tạo tác khá tinh xảo. Hai cột dội lại được nối với nhau bằng một giao kỉ tạo sự vững chắc mà không đơn điệu cho vì kèo. 
    Các gian có kích thước cụ thể: 
                             Bình bản: 5,90m 1,7m 
                             Gian ngoài: 5,90m 2,1m  
                             Gian giữa: 5,90m 2,57m  
                             Gian trong cùng: 5,90m 2,63m 
    Bố trí nội thất: Toàn bộ gian ngoài và gian giữa để trống làm nơi hành lễ. 
Tại gian trong cùng, người ta cho xây 3 bàn thờ đá kích thước như sau: Bàn thờ bên phải: cao 0,85m rộng 1,10m dài 1,40m, phía trên có một chúc bản bằng gỗ và một long ngai trên đặt bài vị, hai bên có hai bình hương. Theo các cụ già ở đây biết đây là dòng chính thờ Huy Chân công chúa tức Hoàng hậu Trịnh Thục. Bàn thờ bên trái: Cao 0,85m rộng 1,10m dài 1,40m phía trên có đặt một long ngai, bên trên có hai con hạc. Dòng này thờ Hoàng hậu Bạch Ngọc Trần Thị Ngọc Hào. Phía sau bàn thờ, trên tường là ba chữ Tiên Lữ Tự bằng tiếng Hán. Bàn thờ giữa: Cao 1,30m rộng 1,70m dài 2,50m. Phía trên có đặt tượng gỗ Quan Âm Bồ Tát cao 0,60m được sơn son, hai bên có đặt bình hương phía trước có dán ảnh. Đây là nơi thờ Phật tổ Như Lai và Quan Âm Bồ Tát. 
    Di tích lịch sử chùa Tiên Lữ có ý nghĩa lịch sử to lớn, ngoài giá trị lịch sử còn chứa đựng nhiều giá trị văn hoá: danh thắng, tôn giáo, truyền thống yêu nước…v.v. Xứng đáng được hậu thế tôn vinh 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: tiên lữ

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn